Liệt nữ Nguyễn Thị Giang: Đất nước và Tình yêu

Luận văn học bổng Nguyễn Thái Học niên khóa 2009

Nguyễn Thị Hoa, ĐHNgoại Thương, Hà Nội

09.06.2009

 

 

Cô giáo Nguyễn Thị Giang (1909-1930) quê tại thị xã Phủ Lạng Thương, thuộc tỉnh Bắc Giang, Bắc Việt. Cô là con thứ hai trong một gia đình gồm 3 người con.


Sau khi học xong lớp nhất, Cô Giang cùng chị là Cô Bắc được nhà cách mạng Nguyễn Khắc Nhu dìu dắt và đưa vào Việt Nam Dân Quốc, một tổ chức với tinh thần chống Pháp quyết liệt. Trong thời điểm này, tại Hà Nội, Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) được thành lập do Nguyễn Thái Học làm Chủ tịch Đảng.

 

Vì cả hai Đảng đều có chung mục tiêu là “Đánh người Pháp ra khỏi nước Nam, giành nước Nam lại cho người Nam” nên họ đã sáp nhập lại làm một. Sau này, Nguyễn Tường Tam và các nhân vật của Tự Lực Văn Đoàn cũng tự nguyện sát nhập Đại Việt Dân Chính Đảng vào VNQDĐ. Những con người ấy biết đặt quyền lợi quốc gia dân tộc lên trên quyền lợi của đảng phái và cá nhân.

 

Hoạt động trong tổ chức Quốc Dân Đảng, Cô Giang được giao nhiệm vụ tuyên truyền quần chúng, làm công tác bình vân và liên lạc giữa cơ sở Đảng ở nhiều tỉnh khác nhau. Cùng với chị của mình, cô đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc.

 

Cảm động và cùng sẻ chia trái tim cống hiển hết mình vì dân tộc, Nguyễn Thái Học và cô Giang đã yêu nhau và trao lời hẹn ước rằng sẽ tổ chức đám cưới sau khi cách mạng thành công. Cô Giang đã hứa rằng: "Chỉ có một con đường duy nhất là làm cách mạng. Nểu như anh có vì Tổ quốc mà hi sinh thì em cũng quyết dùng khẩu súng lục anh trao mà chết theo…" Câu nói ẩn chứa bao giá trị quý giá về tình yêu lứa đôi cũng như trách nhiệm đối với tổ quốc của người thiếu nữ trong thời loạn lạc.

 

Tình yêu trong sáng của cô gắn liền với tình yêu Tổ quốc và tình yêu dân tộc; chỉ có một con đường duy nhất là làm cách mạng. Với tuổi đời còn rất trẻ thế nhưng cô đã nhận thức rõ ràng con đường đúng đắn cho cuộc đời mình. Chỉ có làm cách mạng, chỉ có đấu tranh vũ trang mới có thể giành được độc lập, tự do cho dân tộc:

 

"Nếu như anh có vì Tổ quốc mà hi sinh thì em cũng quyết dùng khẩu súng lục anh trao mà chết theo…"

 

Lời thề thấm đẫm nước mắt thể hiện tấm lòng thuỷ chung son sắt một lòng vì Tổ quốc, một lòng vì người yêu. Cô thà chết chứ không chịu khuất phục trước kẻ thù.

Đến khi Học sửa soạn chỉ huy vụ đánh đồn Phả Lại, ông đem các tài liệu quan trọng giao lại cho cô cùng dặn dò nhìêu về việc Đảng, thấy cô Giang tỏ vẻ băn khoăn thì ông nói:

 

- Tôi phải nói rõ các chuyện vì biết đâu mai này...
Cô Giang mỉm cười:
- Cuộc đời anh thế là sung sướng nhé!
- Sung sướng nỗi gì?
- Anh vì nước chỉ chết một lần thôi, còn như em đây phải chết những hai lần!
- Là thế nào?
- Còn thế nào nữa: Em cũng sẽ chết vì nước, mà lại còn chết vì anh nữa đấy...[1]

 

Lời nói mang nhiều ý nghĩa nhân văn cao đẹp: Anh vì nước chỉ chết một lần, còn em cũng sẽ chết vì nước, mà lại còn chết vì anh nữa đấy.

 

Tấm lòng trung thành với nước, với dân. Cô nói đến cái chết mà nhẹ tựa tơ hồng. Nói đến cái chết mà không hề run sợ, như một lẽ tất yếu bởi vì đằng sau câu nói đó là một trái tìm vì nước, vì dân rực cháy. Còn đẹp hơn nữa khi tình yêu đất nước đi liền với tình yêu đôi lứa thuỷ chung . " …lại còn chết vì anh nữa đấy…" Tình yêu nào cũng to lớn, cao quý và vẹn tròn. Tình yêu của họ giành cho nhau đã hoà quyện vào cuộc đấu tranh mà tồn tại vĩnh viễn cùng non sông.

Ngày 20 tháng 2 năm 1930, Nguyễn Thái Học cùng nhiều anh em bị bắt ở ấp Cổ Vịt, gần đồn Chi Ngại, tỉnh Hải Dương. Nghe tin dữ, Cô gần như suy sụp hoàn toàn. Thế nhưng, bằng tấm lòng yêu nước vững vàng và tình yêu son sắt, khiến cô đã không gục ngã. Cùng Lê Hữu Cảnh và Nguyễn Xuân Huân, cô ra sức củng cố lại cơ cấu của Đảng. Ít lâu sau, Hội Đồng Đề Hình kết án tử hình Nguyễn Thái Học cùng 12 đồng chí và đưa lên Yên Bái xử chém ngày 17 tháng 6 năm 1930. Chiều ngày 16 tháng 6, cô bí mật đáp tàu theo anh Học và các nhà cách mạng bị sa cơ lên Yên Bái.

 

Sau khi chứng kiến các nhà cách mạng đền nợ nước, ngày hôm sau cô về Thổ Tang lạy tạ bố mẹ chồng. Chiều 18 tháng 6 năm 1930, nơi đầu làng Đồng Vệ, phủ Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Yên, giáp làng Thổ Tang, dưới gốc cây đề cạnh quán chè vắng vẻ, cô dùng súng tự sát. Khẩu súng ấy do anh Học tặng cô khi hai người cùng thề non hẹn biển ở đền Hùng năm nào. Trên mình cô có hai bức thư và một bài thơ do cô viết ở Yên Bái ngày hôm trước, sau khi ở pháp trường về quán trọ. Bức thư thứ nhất gửi cho bố mẹ của Nguyễn Thái Học như sau,

 

"Thưa thày mẹ,
Con chết là vì hoàn cảnh bó buộc, con không báo được thù cho nhà, rửa được nhục cho nước! Sau khi đã đem tấm lòng trinh bạch dâng cho chồng con ở đền Hùng, giờ con tìm về chỗ quê cha đất tổ, mượn phát súng này mà kết liễu đời con.
Đứa con dâu thất hiếu kính lạy."


Bức thư ngắn ngủi gửi cho bố mẹ chồng thấm đẫm nước mắt. Cô chết mang theo bao nỗi day dứt, phiền muộn: "Không báo được thù nhà, không rửa nhục được cho nước".

 

Nỗi lòng đáng kính của một người con dâu thảo hiền, không báo hiếu được cho bố mẹ. Bức thư nghe ai oán, đau thương biết bao…

Bức thư thứ hai cô gửi cho Nguyễn Thái Học,


"Anh đã là người yêu nước. Không làm trọn được nghĩa vụ cứu nước, anh giữ lấy linh hồn cao cả để về dưới suối vàng chiêu binh rèn súng đánh đuổi quân thù. Phải chịu đựng nhục nhã mới mong có ngày vẻ vang. Các bạn đồng chí còn sống lại sau Anh, phải phấn đấu thay Anh, để đánh đổ cường quyền mà cứu đồng bào đau khổ…"


Bức thư gửi cho người chồng vì nước quên mình. Tình yêu chung thuỷ, sắt son. Một tình yêu hoà trộn của lòng yêu nước nồng nàn và tình yêu đôi lứa nồng cháy.

 

Trong cái giây phút đau đớn nhất, đó là phải lìa bỏ cõi đời dù chỉ mới chớm đôi mưoi, người liệt nữ ấy vẫn không quên trách nhiệm đối với quốc dân:

 

“Bây giờ hết kiếp thơ đào,
Gian nan bỏ mặc đồng bào từ đây"

 

và bổn phận đối với chồng:

 

"Thù không trả được cho người tình chung" .

 

Đối với người liệt nữ, chết vẫn chưa hết. Ở đâu đó, cô đang cùng anh Học "chiêu binh rèn súng" để "cứu đồng bào đau khổ."

 

Đó là tinh thần và tâm trạng của một thiếu nữ Việt đối với quốc gia dân tộc và tình yêu khi đất nước gặp cơn nguy biến. Chẳng may gặp cảnh éo le, đành lấy cái chết để trả nợ núi sông và giữ tấm lòng thủy chung.


Sau khi cô tuẫn tiết, nhiều người đã khóc bằng những vần thơ cảm động, ca ngợi tấm gương hy sinh cao cả của người liệt nữ. Tuy tuổi chỉ mới đôi mươi, nhưng đã lưu danh sử sách muôn đời. Khí tiết và tấm lòng chung thủy của Nguyễn Thị Giang tiêu biểu cho hình tượng đẹp đẽ, lớn lao mà bình dị của người phụ nữ nước ta xưa nay.

 

[1] Lãng Nhân, Liệt sĩ Nguyễn thị Giang (1909-1930), 2003